Vietnam Fishing Passion

Đam Mê

cachepnokill - Tôi đam mê câu cá, và tôi yêu quê hương.

Việt Nam

Quê hương là chùm Khế Ngọt

Bạn Bè

Những người quanh tôi

Hiển thị các bài đăng có nhãn FISHING IDENTITY IN VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn FISHING IDENTITY IN VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

SỬ DỤNG DÂY CÂU TRONG CÂU LỤC

SỬ DỤNG DÂY CÂU TRONG CÂU LỤC

Câu lục với hình thức giật shock rất mạnh, cự ly câu có thể ngay đầu cần hoặc rất xa nên dường như dây môn (dây nylon- dây cước) được sử dụng gần như bắt buộc. Câu lục được ứng dụng với rất nhiều cách câu khác nhau và đòi hỏi sự khác biệt rất nhiều về đồ câu. Xin điểm danh các thể loại câu lục chính: lục đầu cần, lục chân cọc, lục chà bèo, lục xa bờ đánh tỳ, lục xa bờ chơi bềnh. Ngoài ra còn tồn tại các biến thể khác nhau.
Trong 1 đường dây câu của câu lục có 2 phần: dây trục và dây linh (thẻo).
Dây trục được dùng chủ yếu là dây nylon mono, còn dây linh được dùng là dây mono fluocarbon, mono nylon phủ fluocarbon hoặc dây mono nylon.

DÂY TRỤC:
Các quy luật chung của dây mono nylon:
-         khả năng chịu lực chỉ giữ được khi bề mặt dây toàn vẹn: không xơ, không xước, không bẹp.
-         dây nylon mono luôn có tính đàn hồi, nhưng mức độ khác nhau. Cùng 1 cỡ dây của 1 loại dây, đoạn dây càng dài có khả năng chịu lực kéo cao hơn đoạn dây ngắn hơn do tính đàn hồi.
-         dây được sản xuất có độ đàn hồi khác nhau, dây nào có độ đàn hồi cao hơn khó đứt hơn dây có độ đàn hồi thấp hơn khi chịu lực vượt qua lực chịu niêm yết.
Dây mono nylon dùng làm dây trục trong câu lục đòi hỏi các đặc tính cơ bản giống nhau: chịu lực cao trên đường kính dây nhỏ, suôn mềm, chịu mài mòn cao.
-         đường kính dây càng nhỏ càng ít cản nước khi giật
-         dây suôn mềm giúp tăng khoảng cách ném và đường dây thẳng sẽ bảo toàn lực giật , ko bị trễ.
-         chịu mài mòn cao vì cách câu của lục là 1 dạng ba lăng dòng dọc qua chân phao.
Nhưng để dùng những loại dây đã đạt được đặc tính cơ bản đó thì với mỗi cách câu lục khác nhau sẽ đồi hỏi các đặc tính cần thiết khác nữa:
-         Câu lục đầu cần và lục bềnh xa bờ: dây mono còn cần có độ giãn cao hơn để chịu được lực shock mạnh hơn. Câu lục đầu cần cần độ giãn đàn hồi cao vì lực giật đầu cần rất shock và mạnh. Còn trong câu bềnh xa bờ lại đòi hỏi khả năng chịu lực cao khi buộc dùng dây có size rất bé.
-         Câu tỳ xa bờ và săn hàng cần những dây mono có thêm đặc tính ít đàn hồi để đảm bảo lực giật mạnh nhất khi câu cự ly xa. Với khoảng cách xa, dây có độ đàn hồi cao có thể giãn rất nhiều, thậm chí cả mét, điều này triệt tiêu lực rất rất nhiều. Lưỡi lục khác với lưỡi đơn: lực giật trong lưỡi đơn cần rất nhẹ, thậm chí cá tự bị đóng lưỡi do lực cản nước rất nhỏ và đường câu gần như một đường thẳng như 1 cạnh huyền trong khi lực cản nước của lục rất cao và đường câu của lục là 2 cạnh của 1 hình vuông. Khi giật bạn phải biến 2 cạnh hình vuông đó có lực giật như đường câu cạnh huyền.
-         Câu xa bờ chịu rất nhiều sóng gió, nước trôi do dòng chảy ngầm, chính vì thế cần dây có khả năng chìm nhanh và chìm lửng. Đành rằng trong quá trình dùng, có hiện tượng bám chất bảo quản khi dây mới dùng lần đầu, hoặc do váng nước bám trên bề mặt cũng làm cho dây kém chìm. Dây chìm nhanh để nhanh chóng khắc chế được trôi bạt do sóng và gió để nhanh chóng đưa được lục vào đúng ổ thính cách xa vài chục mét. Chìm lửng để có đường đường câu ngắn nhất khi câu cùng cự ly và cùng độ sâu. Độ dài đường câu của dây câu chìm lửng ngắn hơn nhiều so với dây câu chìm sát đáy. Cùng 1 độ sâu và cự ly câu, đường câu càng ngắn lực giật càng mạnh. Cùng 1 cỡ dây, cùng cự ly và cùng độ sâu, dây câu chìm lửng nhanh chóng thoát khỏi sức cản nước nhanh hơn dây chìm sát đáy. Tất
-         Dây trục có cần giảm tính dẫn quang của dây để tránh khúc xạ ánh sáng dẫn truyền từ mặt nước xuống hay không. Hay một cau hỏi đặt ra màu sắc và quang học của dây trục có quan trọng trong câu lục hay không. Điều đó có quan trọng nhưng xếp thứ yếu sau các đặc tính kể trên. Khi 1 đường dây câu từ mặt nước luồn qua chân phao xuống tới khóa linh sẽ kết thúc dây trục. Nếu sử dụng các dây có độ trong suốt cao, dây trục sẽ dẫn ánh sáng từ trên mặt nước xuống, đặc biệt nếu câu ban ngày có nắng. Trong cách câu bềnh xa bờ, việc dìm đầu cần sâu xuống dưới mặt nước vừa có tác dụng triệt tiêu bạt dây do sáng gió, vừa có tác dụng làm mất đ nguồn sáng, xóa bỏ hiện tượng dẫn truyền ánh sáng dọc theo dây trục gây ra hiện tượng tán sắc. Trong câu xa bờ lục tỳ, chúng ta không thể dìm đầu cần xuống nước, làm vậy khi giật shock rất dễ gãy ngọn cần, thì việc chọn loại dây trục ít dẫn truyền ánh sáng là điều nên làm nếu bạn câu ban ngày. Trong các kiểu câu khác, dây thẻo có thể tăng độ dài tùy ý làm con cá bớt nhát với 1 chùm sáng lung linh từ mặt nước xuống do mồi câu ở xa, còn trong câu lục, dây linh không thể kéo dài vài mét, chúng chỉ quanh quẩn 40-60 cm mà thôi vì dài quá, bạn không thể ném được lục. Hơn thể, đường câu lục với lưỡi lục nằm đáy nước, dây linh dây trục chạy thẳng 1 đường tới chân phao chính vì thế chùm sáng nếu có sẽ nằm ngay trên đầu lưỡi lục. Điều này hạn chế rất nhiều khi săn những con cá đã tinh khôn.
-         Bản chất dây nylon là dây trong suốt không màu, cháu chỉ có màu khi nhà sản xuất chủ động muốn thế. Sự bổ xung màu nhằm mục đích: giảm dẫn truyền sáng, hòa cùng màu nước hoặc chủ động để dễ nhìn với các màu chói. Nghiên cứu thấy rằng, trong môi trường quan sát dễ nhất: nước trong thì càng xuống sâu, con cá càng khó cảm nhận màu sắc hay chúng không còn cảm nhận được màu sắc nữa. Người ta cũng thấy rằng: khi xuống sâu dần, màu đỏ là màu nhanh biến mất nhất dưới con mắt loài cá. Màu xanh nõn chuỗi là màu con cá vẫn cảm nhận được khi ở độ sâu cao nhất.
-         Một cách làm mù màu con cá để tránh hiện tượng nhát dây là sử dụng các chất phủ để tránh khúc xạ ánh sáng. Nhiều loại chất khác nhau được phủ trên bề mặt dây nylon, vật liệu thường dùng là phủ fluocarbone lên bề mặt dây. Loại dây này chống lại tia cực tím hủy hoại dây, tăng tính chống mài mòn, tăng độ suôn mềm…Trong câu lục chúng ta nên chọn loại dây này.
-         Một thói quen mua bán của người Việt là mua theo cảm tính, theo hội chứng đám đông, nhìn nhau mà mua. Dân câu đặc biệt càng có tuổi càng bảo thủ theo cách nghĩ của mình. Họ rất khó thay đổi thói quen và càng khó thích nghi với 1 một thói quen mới. Khi đã mua được 1 loại dây dùng ưng ý, họ sẽ sử dụng và tiếp tục mua dùng chúng cho dù cách câu của họ đã thay đổi đòi hỏi dây có đặc tính ưu việt hơn hoặc có những sản phẩm tốt hơn nhiều, phù hợp hơn nhiều họ vẫn không từ bỏ cái cũ. Họ bảo thủ đến trở nên mù màu với sự phát triển của nền công nghiệp dây câu. Trong câu cá, khi bước những bước chập chững học câu đầu tiên, người trẻ luôn tôn trọng đến mức tuân thủ người già có thâm niên và học họ theo cách sao y bản chính, cả knh nghiệm tốt và cả cái ấu trĩ trong chọn và sử dụng đồ câu. Ngược lại, người có tuổi sư phụ lại thấy khó chịu khi thằng trò lân la tìm hiểu và sử dụng các sản phẩm ưu việt hơn. Chúng ta đang và sẽ già đi, nên tránh cách nhìn đó.
-         Tại sao tại thị trường Việt nam có những loại dây câu niêm yết khả năng chịu lực cũng như các đặc tính khác không giống như trong sử dụng thực tế. Có nhiều điều khiến có hiện tượng đó. Thứ nhất sự tràn lan các sản phẩm nhái giả được đưa vào VN một cách thụ động hoặc chủ động do các đầu nậu đồ câu trong nước sang TQ đặt hàng. Ngay những mặt hàng nhái này cũng được đặt sản xuất chất lượng khác nhau: chất lượng cao hơn và chất lượng quá tồi. Họ tạo ra tâm lý cho người tiêu dùng cảm giác so sánh để cảm giác rằng loại nhái chất lượng cao hơn kia là hàng xịn còn loại nhái chất lượng thấp kia mới là hàng giả, người tiêu dùng sẽ chọn mua loại “xịn” kia mà không hề biết đó là đồ nhái. Loại thứ 2 là những loại dây được nhập xách tay từ nước ngoài về, nơi được kiểm soát tốt về nguồn gốc và tính trung thực niêm yết. Vẫn có hiện tượng chịu lực kém, dễ đứt nổ với lực thấp hơn lực niêm yết. Người mua rất khó để biết rằng cuộn dây họ mua sản xuất năm nào, và cần hiểu rằng, dây nylon dễ bị hủy hoại bởi tia cực tím. Qua nhiều năm, dây bị lão hóa mà chúng lại không niêm yết thời điểm sản xuất để chúng ta lựa chọn.
-         Tại sao cớ dây đường kính rất bé lại chịu lực cao hơn những dây có đường kính cao hơn, đó chính là công nghệ sản xuất dây câu. Phải nói rằng, nước Nhật rất đào sâu vào nền công nghiệp tiêu dùng, họ sản xuất ra những dây câu mono nylon có những đặc tính siêu việt. Thực tế có một vài tập đoàn có thể làm điều đó đặc biệt Misubishi. Rất nhiều thương hiệu đồ câu chủ yếu sản xuất cần máy câu cũng có những mác dây câu của họ. Thực tế đây là những loại dây câu đặt hàng sản xuất và đóng mác mang tên thương hiệu đó. Khi chúng ta mua sử dụng, cái giá phải trả cho thương hiệu rất cao. Cá nhân tôi không chọn những sản phẩm đặt hàng này vì cái giá phải trả cho thương hiệu quá lớn. Nhưng dù gì đi nữa, dây câu nylon của Nhật vẫn có chất lượng hàng đầu thế giới.
-         Việc lựa chọn mua dây câu tại các nước châu âu, đặc biệt Tây âu rất đáng tin cậy, nhưng ngay chính trong các nước đó cũng khó mua được các loại dây mono tốt nhất vì chính sự bảo hộ nền sản xuất trong nước này không cho các sản phẩm ưu việt giá thành thấp được nhập vào nước đó. Nếu các sản phẩm ưu việt này lưu hành sẽ bóp chết nền sản xuất dây câu của các nước tây Âu vốn lạc hậu do không chú trọng. Ngược lại vào thời điểm này, các sản phẩm ưu việt nhất lại mới chỉ được lưu hành tại các nước Đông Âu, vốn dĩ không có nền sản xuất nên họ không cần bảo hộ, chính các nước này sẽ là bàn đạp để đưa sản phẩm có tính cạnh tranh cao vào thị trường Tây Âu. Nhưng một vẫn đề nữa là các nước Đông âu sẽ kém chặt chẽ trong kiểm soát hàng thật giả, đây cũng là cơ hội cho các sản phẩm nhái của TQ lẫn vào, và hiện tượng mua phải hàng nhái ngay tại chính các nước này dễ bị hơn do mua bán qua mạng. Nhưng dù sao, nguy cơ mua phải hàng nhái tại các nước đông Âu không phổ biến rộng khắp như trong nước.
-         Một số lựa chọn mua dây câu tại Việt nam: đặt nhờ mua ở nước châu âu; mua tại các hiệu đồ câu uy tín; chủ động lựa chọn dây câu có in đậm: made in china. Nên chọn mua những sản phẩm chào hàng ngay từ đầu nếu thấy hợp, hãy cảnh giác với những lô sản phẩm nhập về sau.
Điểm qua một số loại dây câu thông dụng:

1.     SUFIX: elite, strong
2.     BALSAX
3.     VARIVAS
4.     SHIMANO
5.     DUEL
6.     P’LINE
7.     DAIWA
8.     SUNLINE
9.     NIKKO

Một số dây câu xách tay:
1.     TEKLON: gold, ceramic..
2.     TORTURE
3.     CAMO
4.     JAXON
5.     SPRO
6.     FALCON
Một số dây câu mới xuất hiện:
1.     ASSARI
2.     LEMAX
3.     ASSO

DÂY LINH:
Dây linh hay dây thẻo là đoạn dây ngắn buộc trực tiếp vào lục qua vòng dây dù chờ sắn, đầu còn lại tạo vòng để lắp vào khóa móc (maní) cuối dây trục. Như vậy dây linh là phần dây tiếp xúc trực tiếp với con cá, chịu nhiều mài mòn cá cứa nhất, chịu lực cao nhất và đây là phần dây mà con cá cảm nhận trực tiếp nhất và sẽ canh giác nhất.
Dây linh có thể lựa chọn dây nylon, dây ny lon phủ fluocarbon hoặc dây 100% Fluocarbon.
Dây nylon chịu lực cao, đàn hồi nhưng không tàng hình, chịu mài mòn kém, mặc dù sau này nhiều công nghệ sản xuất dây nylon dùng cho dây câu tạo ra những dòng sản phẩm nylon chịu lực rất cao với đường kính nhỏ, có thể chịu mài mòn nhưng không khắc phục được tính tàng hình.
Dây 100% Fluocarbone tàng hình cao, chịu lực kém hơn nhiều, chịu mài mòn rất lớn, chịu sự hủy hoại của bùn đất đáy nước cao, dây cứng.
Để dung hòa các đặc tính, họ sản sinh ra các dòng sản phẩm lõi dây nylon chịu lực cao, ngoài phủ 1-3 lớp Fluocarbon. Như vậy họ sẽ tổng hòa được các đặc tính: tàng hình cao, mềm, suôn, ít giãn, chịu mài mòn cao.
Như vậy tính tàng hình của dây linh phụ thuộc vào 2 yếu tố: khả năng triết quang và đường kính dây, độ sâu cần câu và màu nước, cường độ ánh sáng mặt nước. Chúng ta loại bỏ các yếu tố bên ngoài chỉ đề cập tới đặc tính dây: triết quang, size dây và màu dây.
Sự nhận biết đường kính dây là tất yếu, dây càng bé, cá càng ít nhận biết, càng ít lộ hơn so với dây to. Dây bé đồng thời cũng sẽ xuôn mềm hơn, điều này hết sức quan trọng khi câu những con cá rất nhát.
Sự khác biệt về độ suôn mềm của dây linh rất quan trọng, chúng đôi khi quyết định tính thành công trong câu săn các con cá nhát, đặc biệt trôi khủng và chép khủng. Sự khác biệt về độ cứng của dây linh sẽ khiến con cá lảng tránh khi chúng va phải. nhiều tình huống câu lục, quan sát thấy cá có vào ổ, xung quanh ổ nhiều tăm cá to, nhưng không chạm tỳ dây, khi thay dây linh bé hơn, cá vào ngay và tỳ ngay. Điều đó chứng tỏ, cá đã cảnh giác và cảm nhận rất rõ dây linh chúng ta đang dùng. Với những linh to rất khó bắt được những con chép to, mỗi khi cảm nhận đc dây linh, chúng sẽ lùi lại và né tránh khu vực đó.
Màu sắc dây hết sức quan trọng, dây linh là phần dây nằm sâu nhất của đường dây câu. 1 số màu, càng xuống sâu càng nhanh khiến con cá mất cảm giác về màu đó ví dụ màu. Tất nhiên điều này chỉ có ý nghĩa khi bnạ câu ban ngày và càng quang trọng nếu chúng ta câu vào ngày có cường độ ánh sáng cao. Còn câu đêm thì màu dây nào cũng vậy mà thôi. Điều này cũng tương tự dây fluocarbone. Khi câu đêm, ưu việt tàng hình của dây Fluocarbon không còn ý nghĩa. Hơn thế đa số dòng dây fluocarbon chịu lực kém, cứng nên trong câu đêm việc sử dụng chúng không phát huy được ưu thế của dây mà việc dùng chúng thay vì dùng dây nylon lại là 1 sai lầm.
Câu lục áp dụng chủ yếu cho câu nước ngọt nên độ trong của nước thay đổi rất nhiều theo các điểm câu. Nước đục có nhiều kiểu màu sắc khác nhau nên việc chọn dây linh giống màu nước là 1 lực chọn khôn ngoan, còn nếu kông chúng ta nên chọn màu dây trong suốt.
Nhưng trên thị trường thế giới cho thấy bắt đầu có những dòng sản phẩm: 100% fluocarbon chịu lực cao tương đương với các dòng dây nylon cùng size, đây là bước tiến rất tốt cho phép sử dụng những đường câu rất nhuyễn.

Đại diện mộ số sản phẩm nylon dùng làm thẻo rất tốt:
Trabuco T Force
Jaxon crocodile premium

Đại diện 1 số sản phẩm dây nylon phủ fluocarbone:
Jaxon crocodile fluocarbone coated
Falcon prestige fluocarbon coatsting

Đại điện 1 số sản phẩm 100% fluocarbone chịu lực cao:
Take akashi ultraclear fluocarbone
Take filo fluocarbone akashi

(...xin bổ xung hình ảnh sau)
Tg: Bslongha- Trần Việt Long


Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

HIỆN TRẠNG LỰA CHỌN CẦN CÂU CHO CÂU LỤC

LỰA CHỌN CẦN CÂU TRONG CÂU LỤC
Nếu chỉ để câu con cá, người câu có thể dùng cần dài, cần ngắn, cần đắt tiền hay rẻ hoặc thậm chí không cần tới cần câu mà chỉ cần 1 bát câu hay ống bơ, lon chai quấn dây. Nhưng trong câu lục thì khác, cây cần là bàn tay với dài bắt buộc phải có. Vậy đã phải lựa chọn cần để dùng cho câu lục, đạt tới trên cả cái tiện lợi, cái hữu dụng là phải giữ được nhiều nhất cảm giác cá do cây cần đem lại. Đây chính là tiêu chí lựa chọn mọi đồ câu nói chung không riêng gì chiếc cần câu. Ai đi câu cũng thèm cái sướng do con cá đem lại, cái mà phần lớn sự ảnh hưởng tới nó chính là cây cần. Nhưng nhiều khi chính người đi câu lục dùng những cây cần mà không hề biết chính cái thứ họ chọn làm mất đi nhiều phần cái sướng đó. Điều này ở cả ngay những người câu lục nhiều, lão luyện chứ đừng nói những người quen vỗ ngực. Chúng ta hãy nhìn lại những lựa chọn gì làm mất đi cái khoái cảm mà mục đích đi câu đem lại.
1.     Lựa chọn cần thụt cho câu lục:
-         Nhiều người lựa chọn cần thụt để chơi lục, trước đây con số này là 100% trừ những người đánh lục bằng cần tre trúc. Đây là kiểu lựa chọn theo bước tiến sơ khai của lục.
-         Cần thụt có ưu điểm duy nhất là gọn gàng, ngắn hơn cần khúc lắp lại. Sự gọn gàng này giúp người câu vận chuyển dễ dàng hơn. Nhưng nghịch lý rằng, cần thụt càng ngắn gọn gàng bao nhiêu thì càng có nhiều điểm yếu bấy nhiêu.
-         Cần thụt được thiết kế với các đốt lồng vào nhau, chính tại vị trí ngay trên hoặc ngay dưới chỗ lồng đó tạo ra các điểm xung yếu khi chịu lực sốc mà lực giật sốc là chuyện ko thể tránh trong cách câu lục.
-         Cần thụt không cho phép bố trí khoen theo các vị trí để dàn lực đều lên thân cần do các khoen bị gắn cố định tại các đầu đốt, và số ít chạy trên thân đốt và ngọn cần.
-         Khoen cần thụt vốn dĩ luôn to, nặng hơn do phải ôm lấy thân cần, hơn thế hầu hết phần tiếp xúc chịu lực trên blank cần rất hẹp nên tính nhạy của nó kém đi rất nhiều.   Do đặc tính ôm chạy trên thân cần, nên sự dàn lục trên thân cần rất kém.
-         Cần thụt lồng vào nhau nên sự chênh lệch giữa các đốt lớn, sự chênh lệc này càng lớn khiến các điểm yếu càng yếu, cây cần nhìn càng thô và nặng. Với cùng trọng lượng chì ném, blank những cây cần 3 khúc lắp vào nhau luôn thon gọn và nhẹ hơn cần thụt.
-         Sự dàn lực đều và cho phép bố trí khoen theo mọi cách để tối ưu, ngọn cần lắp luôn nhỏ hơn nhiều ngọn cần thụt và chúng cho cảm giác cá tốt hơn nhiều cần thụt.
-         Nếu nói cần thụt rẻ hơn cần 3 khúc, điều này đúng với tất cả các nước. Nó rẻ hơn vì nhiều nhược điểm hơn dù rằng khó gia công hơn.
Một cây cần surf  thụt  (tele) dùng cho câu lục phổ biến ở miền bắc
Sự bảo thủ của các sản phẩm Nhật bản thấy trên thị trường VN, có thể chính hãng hoặc do nhái lại nên bị vậy là họ luôn thiết kế cần thụt bằng 3-4 đốt cần lồng vào nhau có độ dài bằng nhau. Dường như họ không hiểu hay lờ đi, hay đứng trước sự dễ dãi một cách vô tình của người câu lục hay thói quen dùng đồ bầy đàn hay do nhà sản xuất biết nhưng đứng trước cái dốt của người câu lục mà họ không hề có động thái gì để hạn chế đi nhược điểm của cần thụt. Điều đó chúng ta tự hiểu.
Còn với thị trường châu ÂU thì khác, họ có dùng cần thụt hay không, câu trả lời là có nhưng đó chỉ với những hạng cần giá thấp. Dù ở phân hạng giá thấp họ đã cải tiến nhiều để hạn chế đi những điểm yếu của cần thụt:
-         Sử dụng các đốt cần lồng vào nhau, nhưng chiều dài các đốt tăng dần từ ngọn tới đốc. Tức là phần ngọn rất ngắn, đốt thứ 2,3,4 và đốt gốc cần dài dần. Cách thiết kế này giúp cho sự dàn lực trên blank cần đều hơn, phần nào hạn chế các điểm xung yếu của cần thụt. Nhưng nực cười việc thiết kế từ ngắn tới dài lại khiến cho cây cần thụt này khi đóng lại dài không thua kém cây cần lắp khi tháo các đốt.
-       Sử dụng khoen 2-3 chân tại các vị trí ngọn các đốt. các khoen chạy bắt buộc cần có được gắn trên các ống chạy. Điều này phần nào giúp lực được dàn đều hơn cây cần thụt cổ điển.
Một cây cần surf  thụt (tele) dùng cho câu lục thị trường châu Âu


Một cây cần surf 3 khúc dùng rất tốt cho câu lục
2.     Lựa chọn khoen to:
-         Nhiều người câu lục bằng cảm giác nhìn thấy những cây cần có dàn khoen to, thưa ( số lượng khoen ít) cho rằng như vậy sẽ “thoát dây hơn” và quyết định lựa chọn mua dùng. Vậy chúng có thực sự thoát dây hay không. Thoát dây đồng nghĩa với việc ném xa hơn, cho phép câu những khoảng cách xa hơn.
-         Nhắc lại chút xíu về khoảng cách câu xa. Một người câu rất xa được họ sẽ rất dễ dàng thích nghi để câu gần nếu cần. Còn người không câu xa được sẽ mãi mãi không câu được những khoảng cách cần có. Chúng ta đừng vỗ ngực, đừng ngộ nhận, đừng tự hài lòng, tự mãn với gì mình làm được.
-         Vậy để câu xa được dứt khoát chúng ta phải ném được xa. Ngoài kỹ thuật ném, tính chất dây trục, sự tương hợp sức ném chì cùng  action cần và trọng lượng cần ném (phao lục) rất quan trọng. Cũng xin nói thêm rằng, rất nhiều được coi là cao thủ, sử dụng những cây cần rất cứng để ném những quả phao rất nhẹ. Họ vẫn mãn nguyện với việc làm đó nhưng họ đã tự giới hạn khoảng cách câu mà không bao giờ họ vượt qua được một cách vô thức. Tính chất blank cần và thiết kế dàn khoen quyết định rất nhiều có ném xa được hay không.
-         Trong cách chơi bềnh, dây trục rất nhỏ: 0,16 mm – 0,22 mm, với đường kính dây như vậy có cần đến 1 dàn khoen có đường kính lớn hay không. Còn với cách chơi lục tỳ xa bờ, kể cả săn hàng. Có những nhóm chơi cố định chơi loại dây trục có từ lâu: Sufif xtrong hay Teklon. Đành rằng trước kia chúng là những thứ dây câu tốt vào thời điểm đó. Nhưng sự tiến bộ phát triển của dây câu nhanh hơn những cái đầu bảo thủ rất nhiều. Ngày nay có những dây mono (hay gọi dây cước) đường kính 0,35mm chịu lực 23 kg dùng rất tốt cho câu lục săn hàng. Dây đường kính 0,25 mm chịu lực 13 kg thừa thãi cho săn hàng hồ dịch vụ và câu cá trắng, dây trục 0,22 mm chịu lực 9 kg hay 0, 18mm chịu 7 kg thừa thãi cho câu bềnh. Thiếu thông tin, không chịu cập nhật và chơi theo chủ nghĩa bầy đàn sẽ là mồi ngon cho các mẫu dây câu bị tràn ngập nhái fake. “Người đi câu câu con cá còn chủ hiệu đồ câu câu người đi câu”.
-         Người câu lục chọn 1 cây cần có dàn khoen to và thưa ngoài vì cho rằng “thoát dây” còn vì lý do họ dễ dàng cho khóa linh, khóa phao, hạt chặn chạy qua. Tôi thấy có những người câu bềnh, dây trục và linh chịu lực chỉ hơn 2 kg (dù đường kính dây không nhỏ) nhưng dùng cái khóa linh to bổ trảng, chịu lực chừng gần 20 kg. Đó chính là sự bất hợp lý trong việc tự kiến tạo 1 đường câu cho bản thân dùng. Điều này gặp nhiều và rất nhiều. Họ chê những cây cần có dàn khoen bé và xếp dày chỉ vì khóa linh không lọt. Vậy tạo sao không chọn khóa linh nhỏ thôi, chúng đâu cần chịu lực nhiều đến mức thừa thãi.
-         Khoen cần to và thưa sẽ khiến cho vòng dây bị va đập vào thân cần khi ném và khi thu dây. Hiện tượng này càng tăng lên khi chúng ta hạ bắt máy rời khỏi vị trí nguyên bản xuống thấp. Chúng ta dễ thấy hiện tượng dây trục đập phành phạch vào thân cần khi ném và thu dây. Mỗi lần đập như vậy, làm giảm đi khoảng cách ném xa đồng thời chúng tàn phá dây trục rất nhanh.

-         Để làm tăng khoảng cách ném xa, người ta thiết kế khoen Low rider, khoen K và xếp khoen theo kỹ thuật Fuji concerp. Khoen K low rider có tác dụng làm cho dây tuôn ra khỏi máy câu qua khoen đầu tiên bị ép đi theo đường thẳng. Khi dây chạy theo 1 đường gần như 1 đường thẳng, chúng sẽ ít tiếp xúc nhất với vành khoen, làm gia tăng khoảng cách ném. Việc dây chạy theo 1 đường thẳng cho phép ráp các khoen có cỡ nhỏ hơn trên ngọn cần, làm cho cây cần có tính nhạy hơn, cảm giác cá sẽ mạnh hơn rất nhiều. Người ta thấy rằng, chúng ta càng hạn chế sự “làm phiền, gánh nặng cho blank” cần câu thì chúng ta càng giữ được càng nhiều cảm giác cá.





-        Để tránh làm phiền blank cần, người ta càng cố gắng làm nhẹ đi dàn khoen. Vòng khoen sic được thiết kế nhỏ lại phải đồng thời chất liệu vành khoen cũng phải nhẹ đi. Họ sản xuất ra các khoen có vành khung khoen bằng titanium đã là bước tiến nhanh giúp làm giảm trọng lượng dàn khoen đi rất nhiều. Nhưng vẫn không hài lòng với khung titanium, họ cần những vật liệu nhẹ hơn nữa, đó chính là khung khoen các bon ra đời. Cả thế giới đang tiến tới những gì để gìn giữ cảm giác cá và sẵn sàng chi nhiều tiền để có những cây cần như vậy, còn chúng ta đang tự hài lòng 1 cách ngớ ngẩn vỗ ngực: tôi đi câu đâu vì con cá, chỉ vì cái sướng khi đi câu, khi dìu, khi dòng rồi câu cá phải bằng cái đầu đâu phải cá tay…; nhưng chính cái đầu bảo thủ của họ lại chính đánh mất đi phần nhiều cái họ đang tìm kiếm.

-         Hiện nay có những cây cần 3 khúc có dàn khoen bé bị ế dù rằng trong số đó có những cây khung khoen titanium. Chúng ta hãy tìm hiểu và chọn lại những gì cho mình để giữ lại được nhiều nhất khoái cảm do câu cá mang lại.
HÃY CHƠI ĐI, HÃY DÙNG, ĐI, HÃY TRẢI NGHIỆM RỒI LỰA CHỌN.

 Bslongha- Trần Việt Long

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

CÂU LỤC: DÁNG LỤC – ĐẶC TÍNH VÀ LỰA CHỌN

CÂU LỤC: DÁNG LỤC – ĐẶC TÍNH VÀ LỰA CHỌN

Dáng lục được gọi theo hình dáng của lưỡi đơn được buộc tết thành bộ lục.
Có rất nhiều dáng lưỡi lục khác nhau, có 1 số dáng chính và mỗi dáng đều có những biến thế của nó. Lựa chọn dáng nào, biến thế nào liên quan chủ yếu tới thói quen chơi của mỗi người câu lục. Lưỡi lục được làm hoàn toàn thủ công, nên mỗi bộ lục được làm ra mang trong nó nhiều kinh nghiệm của người câu kết đọng trong sự lựa chọn và yêu cầu đặt hàng. Nhưng bằng thói quen, bằng cảm giác, bằng sự cảm nhận hết sức riêng và mang nhiều yếu tố cá nhân thì cùng nhau ngồi phân tích các dáng lưỡi, đặc tính của chúng để từ đó có sự lựa chọn là điều nên làm. “Hãy chơi, hãy cảm nhận để có lựa chọn phù hợp”.

          Câu lục tạm chia thành các cách chơi: lục bềnh và lục tỳ, trong lục tỳ có lục đầu cần và lục xa bờ. Như vậy tạm chia thành 3 cách: lục bềnh, lục tỳ đầu cần và lục tỳ xa bờ. Ứng với mỗi cách chơi này có sự lựa chọn đặc thù của lục khác nhau.

          Bộ lục có được hiệu suất đóng, bám là tổng hòa của các yếu tố: mũi, dáng, chuôi lưỡi, tay lưỡi, chì… Tạm gạt đi các yếu tố kia đi, xin chỉ phân tích riêng: DÁNG LỤC.
          Dáng lục liên quan đến các hiệu quả của: ĐÓNG (khả năng mũi lưỡi bấu sâu vào con cá), BONG (khả năng lưỡi bị rơi tuột ra khỏi con cá), DÍNH (khả năng mũi dễ bấu vào cá), BÁM (ngược với khả năng bong).
          Những quy luật cơ bản:
                    + Mũi càng ngắn: dễ dính nhưng đóng không sâu, dễ bong khó bám
          + Mũi càng dài: khó dính hơn, nhưng càng đóng sâu, khó bong hơn và dễ bám hơn.
          + Mũi càng quặp: khó dính và đóng hơn nhưng đã dnhs rồi thì khó bong, rất bám.
          + Mũi càng mở: ngược lại.
          + Dáng càng hẹp: khó dính hơn nhưng dính rồi khó bong hơn, dễ bám hơn. Chịu lực tốt hơn.( cùng cỡ thép)
          + Dáng càng mở: ngược lại với dáng càng hẹp.
          + Tay lưỡi càng ngắn (cùng cỡ): khiến tay càng cứng, lưỡi càng khó mở, khó dính, khó đóng nhưng lưỡi đơn vững hơn không bị vẹo khi lục đi lên.
          + Tay lưỡi càng dài: ngược lại.
          + Tay lưỡi càng to( so với lưỡi đơn): lưỡi vũng hơn, ko vẹo nhưng khó mở hơn khi giật.
          + Tay lưỡi càng nhỏ (so với lưỡi đơn): lưỡi không vững, dêc vẹo khi giật nhưng dính hơn, bám hơn.
          + Lục có 6 lưỡi đơn, chia 3 cặp đối xứng nhau được xòe gập bởi tay lưỡi. Lục sẽ gia tăng sự chịu đựng lực kéo lớn hơn nếu càng có nhiều lưỡi bấu vào mình con cá hơn.
          + Nếu chỉ với 1 lưỡi bấu vào mình cá, nguy cơ tuột bong lục ra khỏi mình cá cao hơn khi có nhiều lưới cùng bấu. Hai lưỡi đối xứng nhau cùng bấu vào mình cá khiến cho bộ lục rất khó bong tuột và chúng có vai trò không khác gì lưỡi có ngạnh.

DÁNG THÚNG
          Dáng thúng được coi là 1 trong vài dáng có từ sớm nhất cùng móng rồng và xoài. Dáng thúng là kiểu dáng lưỡi được uốn cong đều như nửa vòng thúng. Xuất phát nguyên thủy, nó có mũi khá ngắn. Sau này có sự biến thế đi tạo ra 1 số dáng thúng khác: thúng mũi dài, thúng nằm. Cùng 1 cỡ lục, dáng thúng có độ mở hơn dáng xoài.

          Dáng lục nguyên thủy có độ mở cao hơn nên dễ đóng hơn khi giật, nhưng do mũi ngắn nên cũng dễ bong hơn do lưỡi đâm ngập nông vào mình cá. Tất nhiên do mở hơn ở cùng cỡ lưỡi nên dáng thúng dễ bị oải lưỡi hơn dáng xoài cũng cỡ. Cũng vì mở hơn nên dáng thúng cao hơn dáng xoài.
          Để khắc phục yếu tố bong, người ta đặt lục dáng thúng với tay mềm hơn để gia tăng hiệu suất nhiều lưỡi đơn bám vào cá. Cũng có người làm dáng thúng với mũi dài hơn để lưỡi đóng sâu hơn, hạn chế phần nào bong.
Dáng thúng nằm mũi dài được dùng rất hữu dụng để bắt những con cá to bằng cách câu lục tỳ do chúng rất khỏe, gần như khó oải lưỡi và khó bong, đã đóng là đóng rất sâu. Dáng này được chọn làm lục săn trắm đen với cỡ lục to và cả săn trôi củ đầu cần với lục cỡ thép nhỏ.
Dáng thúng nằm, mũi dài săn hàng có thể làm với cỡ lưỡi 12-15. Tùy theo độ sâu mà nên dùng tay lưỡi cứng hay mềm hơn. Nhưng nhỏ nhất cũng nên dùng tay lưỡi cùng cỡ thép.
Dáng thúng nằm mũi dài vừa phải để câu trôi củ đầu cần, câu chân cọc với các cỡ lục 7-9 nên làm tay mềm: tay ngắn vừa phải với cỡ tay nhỏ.
          Dáng thúng nguyên bản nhưng với cỡ lưỡi 10-12 và mũi dài vừa phải được dùng cho câu mè đàn. Chúng không nhát lưỡi và ăn đàn theo nhiều tầng nước.

DÁNG XOÀI

          Dáng xoài được gọi theo dáng lưỡi hẹp dài, thóp bụng mũi dài giống nửa quả xoài. Đây là dáng mang tính khá cổ truyền, một dáng lưỡi điển hình của câu lục hình thức tỳ. Chúng được tin dùng nhiều nhờ khắc chế được yếu điểm oải lưỡi của dáng thúng. Chúng được dùng nhiều cho câu những con cá có sức chạy bứt phá hoặc buộc phải dùng sức khống chế khi xung quanh có nhiều vật cản.

          Dáng xoài được làm cho đủ cỡ lưỡi tiểu và trung, nhưng ít ai làm dáng xoài cho lục đại. Lý do với thép lớn để làm lục đại, người ta ít lo ngại vẫn đề oải lưỡi hơn và điều cần hơn cả lúc này là khả năng dính và đóng của lục.
          Với cỡ lục trung, nhiều người còn làm dáng xoài hạ phom để khắc chế hơn nữa khả năng oải lưỡi. Đó chính là dáng xoài hẹp.

          Do dáng lưỡi hẹp, mũi không quắp xuống nhưng do hẹp nên khi giật, mũi lưỡi ít mở rộng hướng lên trên nên khả năng dính kém. Nhưng khi đã dính rồi và đóng sâu thì rất hiếm bong. Chính vì thế xoài nên buộc với tay dài hơn và mềm hơn để tăng góc mở lưỡi khi giật. Tránh đặt làm lục xoài với tay cứng.
          Nhiều dáng có thể làm để chơi bềnh, nhưng riêng xoài thì không.
          Một số người ưa thích lục xoài làm lục theo dáng mở hơn, biến thế gọi là xoài mở. Xoài mở sẽ làm tăng khả năng dính hơn do mở rộng mũi hướng lên trên khi giật. Chúng vẫn giữ được đặc tính chịu lực cao mà không oải, khó bong.

         
DÁNG MÓNG RỒNG - TAY QUỶ

Dáng móng rồng hay tay quỷ là dáng đem lại cảm giác “sát thủ nhất” khi nhìn bộ lục. Dáng móng rồng hay tay quỷ được mang tên như cái vuốt chân của những con rồng ngày xưa hay sau này những vuốt tay của hình tượng những con quỷ. Thực tế nó mô phỏng dáng vuốt họ nhà mèo khi lấy cả phần ngón và phần vuốt với 2 vị trí gấp khúc. Thực tế với dáng này, lục rất cứng ít bị oải khi chịu lực nhưng vẫn giữ được độ mở để tăng khả năng dính và đóng.

Dáng móng rồng ít có biến thế hoặc có chăng có sự thay đổi không đáng kể. Chúng luôn được làm với dáng mũi dao để tăng độ đóng.

Dáng móng rồng có yếu điểm dễ xoay vặn lưỡi khi giật, vì thế cần buộc chúng với tay khá cứng và ngắn. Cứng và ngắn lị càng làm tăng độ ôm bám của lục.
Dáng móng rồng nhô cao nên dường như người câu lo ngại sự lộ liễu của lục dưới đáy nước. Nó càng ngày thấy ít xuất hiện do sự lo ngại này hay không. Cá nhân tôi nhận định nó ít được làm do việc uốn thép thành hình móng rồng ngày càng ít hơn khi làm với các kìm uốn phôi. Việc uốn các dáng khác đơn giản hơn, dễ làm hơn với kìm phôi và chỉ tạo duy nhất 1 đường cong. Còn với dáng này thì với 2 đường cong khiến tính đồng đều làm vo bằng tay sẽ khó khăn hơn.

Dáng này được làm các cỡ lục nhưng chủ yếu vẫn là cỡ tiểu và trung còn cỡ đại ít hơn.
Một số người làm lục móng rồng với chì lục nửa trên nửa dưới khiến cho bộ lục thấp hơn nhiều không lộ liễu như trước. Phần chì dưới cũng làm thấp hơn, bè ngang ra.

DÁNG ĐĨA BAY – ĐUÔI NGỰA

Dáng đĩa bay hay đuôi ngựa là dáng lưỡi ra đời lần đầu vào những năm 2006. Không hiểu vì sao một số người gọi chúng là đuôi ngựa nhưng nhì cả bộ lục chúng giống hơn với hình ảnh chiếc đĩa bay trên truyền thông phỏng đoán ra.

Dáng đĩa bay có mũi cong khum, thân lưỡi có 2 gấp khúc và khá thẳng tạo ra 1 dáng lưỡi khá dài và hẹp. Chúng khó bong, khá bám nhưng rất dễ xoay vặn khi giật. Nếu làm chúng với tay cứng và ngắn, lưỡi sẽ khó xòe hơn nên khó dính hơn. Nhưng nếu dùng tay mềm thì chúng lại dễ bị xoay vặn.

Do mũi cong khum mặc dù không quắp mà còn hơi mở ngửa nên dáng này cũng khá hay bềnh khi chủ động câu tỳ.
Thân lưỡi có 2 gấp khúc và khá thẳng nên chúng dễ bị oải khi chịu lực gò mạnh. Đây là dáng lưỡi khá cao so với các dáng khác. Chúng gần như không có biến thế nào khác. Chúng được gia công làm chủ yếu cỡ chung, số ít cỡ đại với dáng này sẽ nhô rất cao và hình dạng khá gớm ghiếc. Tôi gần như chưa gặp dáng này ở cỡ lục tiểu.
Dáng đĩa bay ngày càng ít thấy xuất hiện.

DÁNG MÁC

Dáng mác đặc thù với phần mũi dễ dàng phân định với phần thân, mũi là 1 lá dao trên dài khá thẳng và hơi quắp xuống chút xíu phần mũi. Phần thân và mũi được gấp gập xuống. phần thân cong mềm thanh 1 vòng cung kiểu thúng khiến cho dáng lưỡi này khá mở khi giật.

Dáng mác có độ dính và đóng ngập rất sâu khi đóng vào phần mềm nhưng lại đóng ít và dễ oải phần thân nếu đóng vào phấn cứng không ngập hết mũi.

Dáng mác được gia công làm cả với cỡ tiểu và trung và với mọi kiểu cỡ tay cứng mềm, dài ngắn. Ít thấy dáng mác xuất hiện ở cỡ đại, có khả năng sự lo ngại nguy cơ oải lưỡi phần cong trên thân lưỡi lám tăng độ bong khi gò.

Với đặc thù mở rộng nên dáng này cũng hay bị bềnh khi câu.

DÁNG MÈO NGỒI
          Dáng mèo ngồi ra đời gắn liền với câu lục bềnh, tôi cũng không hiểu vì sao người ta gọi nó là mèo ngồi vì dù nhìn phần nào đi nữa của 1 con mèo đang ngồi, dáng lục cũng chẳng giống. Cũng khó mô tả dáng mèo ngồi. Nhưng như hình dưới đây, đây là dáng lưỡi có độ nhô cao, được làm với thép nhỏ.

Người ta lý giải rằng, dáng này khiến cho con cá gần như không nhìn thấy lưỡi đơn khi con cá bơi nhìn từ trên xuống đáy. Một sự lý giải hoàn toàn chủ quan của con người. Dường như chúng dễ bị con cá hút dính bám vào mặt và con cá không sợ chính bởi được làm từ cọng thép cỡ bé và đập mảnh.
Lục mèo ngồi có yếu điểm dễ oải lưỡi và tại vị trí gấp vuông góc, vài lần uốn lại khiến bộ lục hỏng do thép mất kết cấu.
Dáng mèo ngồi được làm cho câu bềnh và chỉ với các cỡ lục tiểu. Và ban đầu dường như dáng mèo ngồi được làm độc quyền cho câu lục bềnh. Nhưng sau này hiểu về cơ chế bềnh và biết yếu điểm của dáng mèo ngồi, một số dáng lục khác được biến thế, mở rộng hơn để làm lục câu bềnh.
Một điều nhận thấy, không ai làm lục mèo ngồi để câu tỳ và cũng không thấy ai làm vỡi cỡ lục trung và đại.
Dáng mèo ngồi được làm với các cỡ tiểu dễ oải nên chúng rất kén thép, thép ngoài cứng ra cần có độ đàn hồi cao để tránh oải và chịu lực vừa phải hạn chế tình trạng người đi theo cá. Chính tính đàn hồi cao cũng làm cho tăng tính chịu lực, tăng tính bám của các lưỡi đơn khi chúng cùng bấu vào cá. Nhiều lưỡi đơn đối xứng nhau, bấu có đàn hồi tạo là lực bám tránh được tình trạng bong oải và cộng nhiều lực bấu vậy khiến cho chúng ta có thể kéo cá với lực lớn hơn.
Bổ sung 1 số dáng lục không chính thống khác sau


Bslongha- Trần Việt Long
(bài viết có sử dụng một số hình ảnh của tác giả khác)



Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

CÂU LỤC CĂN BẢN: LƯỠI LỤC

CĂN BẢN CÂU LỤC: LƯỠI LỤC

Chưa có tư liệu xác định lưỡi lục ra đời từ bao giờ và từ đâu, nhưng tới nay, cách câu này chỉ hiện hữu ở miền bắc Việt nam với nhiều cách chơi khác nhau. Lục bắt đầu di cư vào miền Trung, miền Nam theo bước đi của giao lưu câu cá và bước chân mưu sinh của người cần thủ.
Lục nhận được nhiều khen chê do góc nhìn khác nhau, nhưng hãy chơi, hãy cảm nhận nó và cảm nhận những cung bậc cảm giác mà nó mang lại. Và hãy nhìn lại xem, trong các cách câu ở nước ta, cái gì là riêng của Việt Nam, cái gì là du nhập và cóp nhặt. 
Trong 1 bộ đồ câu có lẽ duy nhất có lưỡi lục là sản phẩm handmade và là tinh hoa của những bàn tay người thợ thủ công miền Bắc Việt nam.
Nhiều người đi tìm lại lịch sử của lục nhưng đều không có câu trả lời rõ rệt. Nhưng 30 năm về trước lục chỉ tồn tại với 1 vài dáng lưỡi và thường các cỡ thép nhỏ.
Trong khảo sát phương cách săn bắt câu cá, có 1 số cách câu có nguyên lý và cách chơi gần giống lục nhưng đơn giản hơn rất nhiều|: câu lưỡi dụm của Nhật và câu rường của miền nam Việt nam, trung quốc.
       Lưỡi lục 
       
       
                                       Lưỡi rường                                   

Lưỡi rụm
Để giới thiệu cho dễ hiểu về lưỡi lục, xin điểm qua chút xíu về cách thức câu lục và các thuật ngữ liên quan tới lục.
                              ảnh minh họa nguyên lý câu lục
Nguyên lý câu lục được minh họa là chỉ dẫn dẫn chi tiết trong phần đầu của: lục căn bản
1. Các thuật ngữ:
-         Đóng: khả năng lưỡi lục xòe ra khi giật đâm vào con cá
-         Bám: các lưỡi đơn của lục bấu dính vào mình cá không bị rơi tuột ra
-         Bong: hiện tượng, lục đã bấu dính vào cá, sau đó bị rời ra, rơi xuống, mất cá.
-         Treo: khi ném, lục quấn mắc vào phao.
-         Giật: động tác giật cần mạnh nhanh dứt khoát. Giật có nhiều cách giật: giật đầu cần: giật búng ngọn cần bằng cổ tay, giật xa bờ: giật mạnh bằng 2 tay, cần tạo 1 góc 120 độ.
-         Vuốt: kéo giật cần câu 1 cách đều tay và nhẹ nhàng.
-         Lật – chống lật: lật là hiện tượng dây linh (thẻo) bị mắc quấn vào các tay lục, không còn nằm ở vị trí chính giữa, khiến cho lục không nằm tư thế bình thường mà bị treo dọc theo dây linh. Chống lật là những biện pháp, cách ném làm mất đi hiện tượng lật lưỡi.
-         Tỳ: hiện tượng cá chạm tỳ, ép đẩy hút dây linh khiến cho phao bị tụt sâu xuống. Có nhiều mức độ tỳ sẽ có tên gọi khác nhau: máy : phao nhấp nháy rất nhẹ nhanh và đều vài cái. Mím: phao tụt nhẹ và đứng im trong khoảng thời gian rất ngắn. Tụt: phao hạ độ cao sâu. Thụt: phao hạ thấp nhiều và lên nhanh. Ngập: phao bị tụt sâu, mất phao dưới mặt nước.
-         Bềnh: hiện tượng lưỡi lục mắc vào con cá, thường do chúng đi ăn, hút thổi mồi, hút luôn vào bộ lục, đau và trồi mình lên khiến phao bị trồi nổi lên cao, trơ bàu phao. Có nhiều mức độ: nhú: phao trồi lên ít và nhẹ, giã gạo: trồi lên tụt xuống liên tục vài cái, bềnh: trồi trơ bàu phao.
-         Cướp lục: cá hút lưỡi dính vào mặt, đau và sợ chạy đi kéo mất phao.
-         số: đây chính là cỡ thép dùng làm lục, tính theo rem: số 7 là dùng thép 7 rem làm lục, 15 là dùng thép 1,5 ly ( 15 rem) làm lục.
-         Dáng: dáng lục bị gọi theo dáng của lưỡi đơn.: thúng, xoài, tay quỷ, móng rồng, hái, mèo ngồi…mỗi dáng chính có thêm các biến thể: thúng mũi ngắn, thúng mũi dài, thúng nằm….
2. Các loại lục: tứ, ngũ, lục và bát
Lưỡi lục: 

Lưỡi tứ: 

Lưỡi ngũ: 

Lưỡi bát: 
Và cuối lục, theo tôi tinh hoa nhất của lục đó chính là lưỡi dựa, 1 cách chơi tinh tế nhất vẫn theo nguyên lý tỳ đè nhưng chỉ với 1 lưỡi đơn.

3. Kết cấu của 1 bộ lục:
3.1             Lưỡi đơn:
Dáng lưỡi đơn sẽ được mang tên của bộ lục và cỡ thép của nó được mang tên cỡ của lục. Ví dụ: lục thúng 9 – có nghĩa lục dáng thúng, thép cỡ 9 rem.
Dựa vào cỡ thép người ta tạm chia thành 3 cỡ: cỡ lục tiểu: thép 4-5-6-7 rem, cỡ lục trung: thép 8-9-10-12, cỡ đại > 13. Ngoài ra còn có những biến thể được làm theo đặt hành tùy cách chơi riêng: lục cúc hay lục đồng xu ( bộ lục bé xíu như chiếc cúc áo măng tô hoặc như đồng xu)
Lục các cỡ 5        6          7          8       9      10     12     13     15
Vỡi mỗi cỡ thép, người ta định hình 1 cách tương đối kích cữ vòng uốn của lưỡi câu tạo ra phom lưỡi. Ví dụ: thép 7 có phom tương đối chuẩn tương ứng – gọi là phom 7. Khi dùng thép 8 uốn lưỡi chủ động theo cỡ phom 7 thì gọi là : hạ phom. Còn khi dùng phom 9,10 hoặc hơn nữa thì gọi là mở phom.
·        Vật liệu – thép sợi nhiệt luyện:
Lưỡi đơn được làm từ thép nhiệt luyện, thường dùng thép lò xo. Trước đây người thợ dùng các loại lò xo có sẵn: lò xo băng tiếp đạn súng AK, K59… hoặc các thép sợi lấy từ vành lốp ô tô hoặc từ cáp chịu lực hoặc lõi thép dây đàn piano…Nói chung là sử dụng các vật liệu thép sợi đã qua nhiệt luyện thành phẩm để làm lưỡi câu. Đặc thù của những loại lưỡi này sẽ phải duỗi thẳng và cắt uốn, đập, mài thành lưỡi câu. Chúng bị mất đi kết cấu thép sau khi gia công nếu như không được ram lại để ổn định lại kết cấu thép. Nhược điểm thứ 2 là chúng làm từ rất nhiều loại thép khác nhau, người thợ không nắm được các thông số nhiệt luyện của thép nên dù có ram lại cũng không biết quy trình ram nào cho phù hợp. Nhược điểm thứ 3 là thép định hình thành phẩm và được tôi ram, khi đó ở các vị trí khác nhau, kết cấu thép khác nhau và lý tính cũng khác nhau. Có vị trí làm mũi rất tốt, có vị trí chỉ làm chuôi lưỡi, nếu lấy làm mũi thì rất dở. Đây là cách làm của nhiều thợ làm lưỡi bằng chủ nghĩa kinh nghiệm và đôi khi họ ram thép chỉ để lấy màu cho đẹp, và nhiều người tự hào vì màu lưỡi họ đẹp. Và nhiều người vì sự huyễn hoặc đẩy những bộ lưỡi của họ với những giá rất cao.
Lò xo băng tiếp đạn súng AK
                K59 
Cáp chịu lực
Thép vành lốp ô tô
Lõi dây đàn piano 


Sau này, đi sâu vào kết cấu thép, những người thợ xuất thân từ các thợ cơ khí bậc cao hoặc những người trẻ biết ứng dụng khoa học kỹ thuật vào để làm lục. Họ chủ động lựa chọn các nguồn thép nhiệt luyện có đầy đủ mác thép. Họ nắm được với loại thép phôi cuộn đó, sẽ có lý tính gì, cần ram ổn định thép như thế nào, ủ thép ra sao. Đây là thế mạnh của những người chuyên làm lưỡi chuyên nghiệp dù tuổi đời còn trẻ nhưng họ khiến những người thợ già trước đây lui dần vào bóng tối do mất dần thị phần vì không cạnh tranh được về chất lượng và giá cả.
·        Mũi lưỡi:
Lưỡi đơn của lục là dạng lưỡi không ngạnh ( số rất ít biến thể làm có ngạnh). Mũi được mài nhọn theo 2 dạng chính: nhọn và tròn kiểu mũi kim – gọi là mũi kim, nhọn và sắc cạnh như lưỡi dao- gọi là mũi dao. Riêng mũi dao có 2 loại: loại mũi dao trên và 1 loại ngoài mũi dao trên còn có mũi dao dưới.
Mũi kim :          
                    
Mũi dao :
Mũi dao là loại mũi dễ gia công nhất dù là 1 lưỡi dao trên hay cả trên và dưới. Mũi kim rất khó gia công, nó đòi hỏi người thợ có kỹ năng mài rất tốt và tỷ mỷ mới có thể làm được những mũi kim sắc lem và bền mũi. Có rất nhiều người thợ chỉ có thể làm mũi dao mà không thể làm mũi kim. Chúng rất dễ mất mũi trong quá trinhg mài.
Có 1 câu rằng: nhìn vào viên đá mài máy, sẽ biết chất lượng mũi người thợ làm ra như thế nào. Có rất nhiều loại đá mài khác nhau, chúng sẽ cho phép người thợ đạt được những mũi lưỡi chất lượng khác nhau. Biết lựa chọn, biết dùng loại đá mài phù hợp sẽ quyết định được chất lượng của mũi lưỡi.
Với những bộ lục cỡ nhỏ, thép nhỏ và đặc biệt trong câu lục bềnh, mũi kim cho độ bén cao hơn, độ bền mũi cao hơn và ít rơi lưỡi hơn.
Vậy những bộ lục săn hàng cỡ lớn, có nên làm mũi kim không. Ngược lại không nên làm, chúng cần làm các mũi dao, có thể làm 1 dao hoặc 2 dao tùy ý.
Lưỡi lục là hàng hoàn toàn thủ công nên theo cách chơi tùy người và tùy theo cảm nhận của người thợ thì có nhiều cách biến thể về mũi khác nhau: mũi thẳng hay khoằm, mũi ngắn hay dài, dao trên ngắn hay kéo dài tới phần lưng, mũi mài nhọn thon mảnh hay tù, mài thêm dao dưới hay không.
Một số người đặt làm thêm ngạch cho lưỡi lục: ngạnh trên với hy vọng chống lại những cú bong đáng tiếc. Cới ngạch trên, phần dao mũi lưỡi sẽ vuốt kéo dài tới hết phần ngạch.
Mũi thẳng                  mũi khoằm
Dao trên                     dao trên và dao dưới
Mũi ngạch dao trên
Dao trên ngắn
Dao trên vuốt dài
Ngạch trên: 
·        Các khâu gia công lưỡi đơn của lục:
B1. Cắt thép phôi: các sợi thép được cắt thành từng đoạn bằng nhau có độ dài đủ làm cho 2 lưỡi đơn. Độ dài khác nhau tùy theo dáng lưỡi và cỡ thép.
B2. Các đoạn thép ngắn này được uốn định hình theo dáng lưỡi bằng các loại kìm phom. Có nghĩa ví dụ với lục thúng số 7 sẽ có riêng 1 loại kìm phom chỉ làm lục thúng số 7 mà thôi. Mỗi dáng, mỗi cỡ có 1 loại kìm khác nhau. Trong quá trình uốn luôn cần ướm thử trên khuôn mẫu để đảm bảo các lưỡi được uốn đều nhau. Các khuôm phom này thường được tạo thành hình trên miếng kim loại mềm: miếng chì dày.
B3. Các đoạn thép được uốn 2 đầu định hình này được đập dẹt, dẹt đều dần cho tới gần tới chuôi lưỡi.
B4. Các đoạn thép 2 đầu mang 2 lưỡi đó được mài bằng đá mài máy quay, với các loại mũi dao thì việc mài sẽ như vậy, còn với dáng mũi kim thì đoạn thép được mài trước khi uốn thành hình. Ban đầu với các cỡ lớn, họ cần mài thô định hình trước sau mới mài tinh.
B5. Cắt và đập chuôi lưỡi: Lưỡi được mài được cắt theo cữ để đảm bảo dài ngắn đều nhau. Phần chuôi sẽ được đập bẹt. Với 1 số thép nhiệt luyện cao, thép đập sẽ bị chẻ đuôi nên cần ủ nhiệt trước khi đập. Một số thợ người ta đốt chuôi thép cho mềm để dể đâpk bẹp, điều này làm giảm độ cứng của thép rất nhiều. Chuôi lưỡi đã được đập dẹt, sẽ được mài cho nhắn hết gờ sắc.
B6. Ram lưỡi: cả mẻ lưỡi cùng loại thép sẽ được ram cùng nhau cùng quy trình thay đổi tùy theo mác thép. Một số thợ đặt số lưỡi câu đó trên miếng thép đặt trên bếp gaz hoặc đôi khi chỉ là con dao. Bằng kinh nghiệm nhìn màu họ cảm thấy đạt. Một số thợ dùng lò cao tần để ram lưỡi.
Đến đây là hoàn thành các công đoạn để ra những lưỡi đơn được chờ để buộc tết tạo hình thành 1 bộ lục hoàn chỉnh. Để thành mạch, tôi xin đữa ra các bước tiếp theo và sẽ mô tả kỹ trong các mục sau.
B7. Buộc tay lưỡi: thông thường ứng với mỗi cỡ thép, có 1 cỡ dây cước (dây nilon mono) nhất định để buộc tay lưỡi. Ngoài ra còn tùy theo yêu cầu của người câu mà quyết định dùng tay lưỡi nhỏ hơn hay to hơn, nhưng dù to hay nhỏ cũng nên chọn loại tay lưỡi có độ bật tốt. Cùng 1 cỡ và 1 loại tay lưỡi, để tay lưỡi càng dài thì tay lưỡi càng mềm. Có 2 cách buộc tay lưỡi: buộc bằng nút thắt và buộc bằng quấn dây thép.
Việc buộc tay lưỡi bằng quấn dây inox nhỏ vẫn đảm bảo chịu lực khi buộc tạo ra các gối lưỡi và chuôi lưỡi tạo khấc. Sau khi buộc xong cần nhỏ keo cỗ định cho nút quấn. Cách quấn này giúp hạn chế lật lưỡi khi ném do mắc dây linh vào các nút. Trong khâu thao tác buộc cần giá đỡ kẹp kiểu êtô nhỏ.
Trái lại, với cách buộc tạo nút, hoàn toàn bằng tay không, trên mặt bàn có các cọc để buộc và đôi khi cần cán gỗ để tăng lực kéo.

Nút thắt buộc :
 Nút quấn dây thép: 
B8. Tết lục:
B9. Buộc nhân dù
B10. Vào chì:
3.2             Tay lưỡi:
-         Tay lục được làm bằng các sợi dây nylon lớn, chúng như khớp nối để khi giất, lục đi lên, dưới sức cản của nước, lưỡi lục sẽ xòe ra như vuốt mèo, hướng mũi lên trên để bập vào mình cá. Cùng 1 cỡ dây nylon, tay lưỡi càng dài sẽ càng mềm và ngược lại. Ngoài ra nhiệm vụ của tay lưỡi còn giữ cho lưỡi đơn của bộ lục đứng thẳng, không vẹo đổ sang bên.
-         Dưới sức giằng quẫy của con cá, lục sẽ bị biến dạng đi, phần biến dạng chính là các tay lưỡi. Cần nắn chỉnh lại lục trở lại dáng ban đầu.
-         Có 2 loại nút buộc tay lưỡi vào lưỡi đơn của lục: nút thắt nơ và nút đơn (đã mô tả ở trên). Ưu điểm của lưỡi buộc bằng cách quấn dây inox sẽ không tạo nút nổi cộm, hạn chế được hiện tượng rắt dây linh, từ đó hạn chế được treo lưỡi. Nhưng nút quấn bằng dây inox chỉ áp dụng cho các cỡ lục trung và cỡ lớn, không áp dụng được cho lục cỡ tiểu.
-         Một số người sau phiền toái về biến dạng lục do tay lưỡi yếu đã đưa ra cách dùng ty lưỡi kép, xoắn vặn thừng. Nhưng cách này không hữu hiệu do bị tăng sức cản nước.

-         Một số người cầu kỳ hơn sử dụng cáp thép làm inox. Một số dùng dây căng vợt tennis để làm tay lục với hy vọng tăng sức chịu lực.
-         Với các bộ lục bị biến dạng tay lưỡi, có thể căng bộ lục vào miếng xốp tròn và ngâm bộ lục vào nước nóng, dây nylon sẽ duỗi ra trở lại dáng ban đầu.

3.3             Chì
Chì lục có tác dụng giúp lục đủ nặng để neo lưỡi chống lại sóng gió, giúp phao cắt sóng gió đồng thời giúp trọng tâm của bộ lục nằm thấp nhất và ở chính giữa tâm lục, giúp bộ lục không bị treo mắc lật khi ném xa.
Chì lục nguyên thủy là dạng chì dưới, hình trụ. Có 2 lỗ để gắn lục vào chì.
         Chì lục hình trụ :

         Chì lục hình tháp: 

         Chì lục dưới có nón úp : 

         Chì trên: 
Chì dưới nguyên bản thường được quy chuẩn theo cỡ lục, nhưng tùy ý người câu có thể thay đổi gắn chì nặng hơn vào cỡ lục nhỏ hơn. Hoặc họ có thể thay đổi chiều cao viên chì lục, làm lục thấp đi hoặc làm viên chì hình tháp để giảm sức cản nước và tăng hạn chế lật treo lục.
Để giảm sức cản nước khi giật, có thể sử dụng 1 nón chụp xỏ qua nhân dù dây buộc linh, úp lấy mặt trên viên chì.
Sau này chì dưới dạng chóp được đúc và dùng cho lục, chúng có tác dụng rất tốt cho giảm sức cản và tăng tốc độ đi lên của lục khi giật. Nhưng chì dưới sẽ có nhược điểm làm tăng tỷ lệ bong cá.
Chì chóp dù dưới hay trên chỉ có tác dụng với cách đánh tỳ, tức là phải giật khi câu.
Chì chóp không nên áp dụng cho câu bềnh và hơn thế với cách câu đầu cần việc làm này không cần thiết.
3.4             Nhân dù buộc linh
Nhân dù được làm bằng dây dù (braid), được tạo vòng chờ và buộc cố định vào chính tâm bộ lục. Vòng chờ này sẽ là vị trí để buộc dây linh. Nhân dù cần nằm chính tâm của lục, vòng sẽ nhỏ và ngắn nếu dùng cho cách câu bềnh và câu đầu cần, khi không cần lắp chống lật. Vòng chờ sẽ dài nếu lắp ống co hoặc các cách chống lật khác.
Chống lật bằng cách quấn dây fluocarbon
Chống lật bằng ống dây plastic hoặc ống co nhiệt
Một số cách chống lật khác được làm đơn giản bằng dùng dây đồng sợi nhỏ quấn gia cố phần dây dù buộc linh và 1 phần dây linh.
Riêng trong lục bềnh, việc chống lật cho lục rất khó thực hiện do nếu lắp chống lật cứng sẽ làm giảm hiệu xuất bềnh. Việc lắp mồi vào chính giữa nhân dù lục bằng lưỡi ốc và cố đinh nó tại đó giúp chống lật rất tốt. 

Đang cập nhật hình ảnh, xin thông cảm...
Bài viết có sử dụng 1 số hình ảnh của các tác giả khác.
Bslongha- Trẩn Việt Long